I created this translation to share with Vietnamese friends and colleagues. Here’s the original essay: The turbulent AI era is here. The choices we make now are critical.
MAA
Trong suốt cuộc đời mình, tôi chỉ làm hai công việc. Ở công việc đầu tiên, thông qua những gì làm tại Microsoft, tôi đã góp phần phát triển phần mềm nhằm trao thêm năng lực cho con người.
Ở công việc thứ hai, mà tôi bắt đầu làm toàn thời gian vào năm 2008, tôi hoàn lại cho xã hội khối tài sản kiếm được từ Microsoft, với mục tiêu giúp thế giới khỏe mạnh hơn, được giáo dục tốt hơn và công bằng hơn. Đây sẽ là công việc tôi làm trong suốt phần đời còn lại.
Cả hai trải nghiệm ấy đều định hình góc nhìn của tôi về trí tuệ nhân tạo. Khi lần đầu tiếp xúc với máy tính ở tuổi 13, tôi bị cuốn hút bởi ý tưởng làm cho chúng thông minh hơn và có thể thực hiện những việc mà khi ấy chỉ con người mới làm được. Mặc dù thuật ngữ “AI” đã được sử dụng từ khoảng thời gian tôi chào đời, công nghệ này chỉ đạt được những bước tiến đáng kể trong thập kỷ qua. Giờ đây, nó có năng lực phi thường và vẫn tiếp tục cải thiện với tốc độ đáng kinh ngạc. Lần đầu tiên, AI có thể thay thế, thậm chí vượt qua, năng lực nhận thức của con người.
AI hoặc sẽ là công cụ san bằng bất bình đẳng vĩ đại nhất từng được phát minh, hoặc sẽ trở thành nguồn gây bất công tồi tệ nhất.
Xét về công bằng, AI hoặc sẽ là công cụ san bằng bất bình đẳng vĩ đại nhất từng được phát minh, hoặc sẽ trở thành nguồn gây bất công tồi tệ nhất. Thách thức này vô cùng lớn. Ngay cả trong hoàn cảnh thuận lợi nhất, quá trình chuyển đổi sang kỷ nguyên AI mới vẫn sẽ là một trong những thời kỳ biến động nhất trong lịch sử nhân loại. Chúng ta sẽ sử dụng công nghệ này như thế nào để làm cho thế giới công bằng hơn và ngăn nó khoét sâu khoảng cách giàu nghèo? Chúng ta sẽ bảo vệ ra sao những người dễ bị tổn thương nhất trước tác hại của trí tuệ nhân tạo, bao gồm những người mất kế sinh nhai và mất cảm giác rằng họ còn có thể làm chủ tương lai của mình?
Tôi tin rằng việc trả lời những câu hỏi này và hành động dựa trên các câu trả lời phải là ưu tiên hàng đầu của thế giới. Nếu thế giới thực hiện đúng những bước cần thiết, AI sẽ trở thành một sức mạnh vì điều tốt đẹp và giúp mọi người đều có cuộc sống tốt hơn.
Đáng tiếc là hiện nay chúng ta chưa chuẩn bị cho điều đó. Tôi không thấy bằng chứng cho thấy các nhà lãnh đạo, chuyên gia và cộng đồng đang ứng phó đầy đủ với những thách thức này. Chưa có một kế hoạch nào nhằm làm cho quá trình bước vào kỷ nguyên AI bớt khó khăn.
Một phần nguyên nhân là nhiều nhà bình luận đánh giá thấp mức độ tác động của AI. Theo tôi, có một vài lý do.
Một lý do là các mô hình AI vẫn mắc lỗi. Thật khó hình dung bất kỳ mô hình nào có thể thay thế nhận thức của con người khi cách đây chưa lâu, chúng còn không giải được một câu Sudoku đơn giản hoặc xác định được có bao nhiêu chữ R trong từ strawberry.
Nhưng vấn đề độ tin cậy đang được khắc phục nhanh chóng, khi các nhà nghiên cứu tạo ra những mô hình có thể kiểm tra lại công việc và tự cải thiện. Chẳng bao lâu nữa, chúng sẽ giỏi hơn con người một cách đáng kể trong nhiều nhiệm vụ.
Một lý do khác khiến người ta đánh giá thấp AI là những phép so sánh với tác động của các phát minh trước đây dễ gây hiểu lầm. Chúng ta chưa từng có kinh nghiệm với một công nghệ có thể được triển khai nhanh chóng hoặc có thể suy nghĩ và vận động như con người. Khi máy tính cá nhân xuất hiện, phải mất hai mươi năm nó mới làm thay đổi đáng kể cách chúng ta làm việc, bởi phần mềm cần được phát triển, giá thành phải giảm và con người phải học cách sử dụng các công cụ rồi tích hợp chúng vào quy trình kinh doanh. Trái lại, AI hoạt động ngay trên những thiết bị chúng ta đã có và sử dụng ngôn ngữ tự nhiên. Chúng ta không phải thích nghi với nó, bởi nó có thể thích nghi với chúng ta. Nó có thể xem cùng một video đào tạo dành cho nhân viên và học từ dữ liệu hiện có.
Tôi muốn thừa nhận một thiên kiến có thể tồn tại. Tôi đã được hưởng lợi rất lớn từ ngành công nghệ. Mặc dù đã đa dạng hóa danh mục đầu tư khá nhiều, tôi vẫn có những lợi ích tài chính gắn với ngành này. Với tư cách Chủ tịch Quỹ Gates, tôi đang làm việc cùng Microsoft và các công ty AI khác để cố gắng bảo đảm rằng AI được triển khai theo những cách thực sự mang lại lợi ích cho người dân trên toàn thế giới.
Tuy nhiên, quan điểm của tôi về AI không xuất phát từ khả năng kiếm tiền cho bản thân. Mọi lợi nhuận từ các khoản đầu tư của tôi, kể cả những khoản liên quan đến công nghệ, sẽ được chuyển cho Quỹ Gates để giải quyết tình trạng bất bình đẳng toàn cầu. Dĩ nhiên, độc giả phải tự quyết định liệu điều này có làm thiên lệch góc nhìn của tôi hay không.
Lần này thực sự khác biệt
Từ khi có thể nhớ được, tôi luôn mong đổi mới diễn ra nhanh hơn. Nhưng với AI, cảm xúc của tôi phức tạp hơn.
Chúng ta cần thời gian để chuẩn bị cho những xáo trộn xã hội, chính trị và kinh tế.
Tôi mong thế giới có thể nhanh chóng nhận được những lợi ích, đồng thời trì hoãn càng lâu càng tốt những vấn đề mà AI sẽ gây ra. Nhưng lợi ích và vấn đề đang đến cùng một lúc. Tôi tin rằng chúng ta cần thời gian chuẩn bị cho giai đoạn xáo trộn xã hội, chính trị và kinh tế mà mình sắp bước vào. Những người cần nhiều thời gian nhất lại chính là những người có ít thời gian nhất: nhân viên kế toán bị bot thay thế, hay người lao động được trả 20 đô la một giờ mất việc vào tay một robot chỉ tốn 10 đô la một giờ.
Nhiều người cho rằng quá trình chuyển đổi công nghệ này sẽ giống những lần trước. Họ nêu ví dụ về việc lao động ở Hoa Kỳ chuyển từ nông nghiệp sang công việc văn phòng. Tuy nhiên, quá trình đó diễn ra qua nhiều thế hệ và tạo ra những công việc mới đòi hỏi nhận thức của con người. Trong trường hợp này, chính công nghệ lại có thể thay thế nhận thức con người.
Vì có thể nhìn, nghe, nói và suy luận, và cuối cùng sẽ thực hiện công việc thể chất trơn tru như bất kỳ con người nào, AI sẽ không chỉ tác động đến một ngành. Nó sẽ đảm nhận công việc trong lĩnh vực pháp luật, dịch vụ khách hàng, y tế, phần mềm và sản xuất. Các ngành này sẽ chịu tác động nhanh chóng, trong khoảng một thập kỷ thay vì qua vài thế hệ. Một số công việc mới sẽ xuất hiện, nhưng nếu không có chính sách phù hợp, số lượng sẽ ít hơn rất nhiều so với số việc làm hiện nay.
Nếu ai đó có một kế hoạch đáng tin cậy để làm chậm tiến bộ AI trên toàn cầu, có lẽ tôi sẽ ủng hộ. Tuy nhiên, tôi không nghĩ điều đó sẽ xảy ra. Các động lực địa chính trị và kinh tế đang thúc đẩy quá mạnh theo hướng tiến hết tốc lực.
Để tối đa hóa tác động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực của công nghệ chưa từng có này, qua đó giúp toàn xã hội có cuộc sống tốt hơn, chúng ta cần hiểu cả lợi ích lẫn rủi ro. Tôi sẽ bắt đầu với các rủi ro.
Quá trình chuyển đổi sang AI đi kèm ba rủi ro lớn
Tôi dự định sẽ viết chi tiết hơn về từng rủi ro trong tương lai, nên hiện giờ chỉ đề cập ngắn gọn.
Nhiều việc làm sẽ biến mất vĩnh viễn
Năm 1933, trong thời kỳ Đại suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp ở Hoa Kỳ vào khoảng 25%. Con số này vẫn ở mức hai chữ số trong phần lớn thập kỷ sau đó. Cuối cùng, tình hình phục hồi khi nhu cầu, đầu tư và tăng trưởng quay trở lại.
Tác động của AI có thể không đạt đến mức đó, nhưng nó sẽ không biến mất theo một chu kỳ kinh tế. Những việc làm có nguy cơ cao nhất là ở cấp độ đầu vào và trung cấp, trong khi phần lớn việc làm mới được tạo ra sẽ đòi hỏi những kỹ năng phải mất nhiều năm mới học được.
Các công việc văn phòng đã bắt đầu chịu tác động ở mức vừa phải. Sau khi AI tạo sinh được ứng dụng rộng rãi, việc làm giảm đáng kể trong nhóm lao động trẻ làm những công việc đặc biệt dễ bị thay thế, nhưng không giảm ở những đồng nghiệp lớn tuổi hơn.
Tôi cho rằng xu hướng này sẽ tiếp tục, và nó sẽ không chỉ giới hạn ở một vài ngành hay nghề nghiệp. Bán hàng và hỗ trợ khách hàng, cả trực tuyến lẫn qua điện thoại, kỹ thuật phần mềm và công việc trợ lý pháp lý có thể thuộc nhóm bị ảnh hưởng đầu tiên. Nhưng sự gián đoạn sẽ lan rộng hơn nhiều khi AI đảm nhận những nhiệm vụ hiện vẫn cần lao động được đào tạo, chẳng hạn đánh giá hồ sơ vay vốn, phân tích dữ liệu và thậm chí phân loại mức độ ưu tiên của bệnh nhân. Một vài lĩnh vực như kỹ thuật phần mềm sẽ tạo thêm nhu cầu khi chi phí giảm, vì vậy mức mất việc ròng ở đó sẽ thấp hơn các lĩnh vực khác, miễn là một số nhiệm vụ, chẳng hạn thiết kế, vẫn được con người thực hiện tốt hơn.
Các công việc chân tay cũng sẽ bị ảnh hưởng. Dù robot chưa tiến xa bằng AI, cuối cùng chi phí của chúng cũng sẽ giảm mạnh. Nhiều người Mỹ tôi trò chuyện không nhận ra robot có khả năng thao tác khéo léo đang tiến bộ nhanh đến mức nào, bởi phần lớn công trình tiên tiến được thực hiện ở các nước khác, chủ yếu là Trung Quốc. Hoặc họ có thể bị đánh lạc hướng bởi những video robot nhảy múa vụng về lan truyền gần đây. Tôi cho rằng trước cuối thập kỷ này, robot “thông minh” sẽ bắt đầu cạnh tranh với con người trong một số nhiệm vụ thể chất, chẳng hạn trong xây dựng và dịch vụ lưu trú.
Robot kết hợp với AI có thể tạo ra một vòng luẩn quẩn. Sau khi một công ty áp dụng chúng và dùng khoản tiết kiệm để hạ giá, các đối thủ sẽ chịu áp lực rất lớn phải làm theo. Nếu những công ty hiện hữu không áp dụng, các công ty khởi nghiệp sẽ làm. Nhiều người sẽ chuyển sang công việc khác, nhưng biến động do mất việc, đào tạo lại và tìm việc mới sẽ rất lớn. Các lực lượng thị trường sẽ khiến tốc độ áp dụng ngày càng nhanh; nếu chúng ta không can thiệp, số việc làm tốt sẽ giảm và lợi ích sẽ dồn vào tay một nhóm nhỏ.
Tôi đặc biệt lo ngại cho người trẻ, những người sẽ bước vào một thị trường lao động có ít vị trí đầu vào hơn. Họ hiểu thách thức này vì là nhóm sử dụng AI tích cực nhất và trực tiếp chứng kiến cả năng lực lẫn tốc độ cải thiện của nó. Không có gì lạ khi rất nhiều người trẻ có cái nhìn tiêu cực về AI.
Bước ngoặt lớn nhất đối với người lao động sẽ đến khi AI làm việc gần như không có sai sót. Khi đó, nó có thể tự hoạt động mà không cần con người kiểm tra, và các công ty sẽ có mọi động lực kinh tế để cho phép điều đó.
Điều này sẽ dẫn đến thay đổi căn bản trong cách chúng ta nhìn nhận việc làm, thu nhập và an ninh kinh tế. Một nền kinh tế được xây dựng xoay quanh việc làm sẽ vận hành thế nào nếu ít người làm việc hơn, hoặc nếu nhiều người làm ít giờ hơn?
Trong xã hội tư bản, việc làm là phương thức để phần lớn mọi người kiếm tiền trang trải những nhu cầu thiết yếu, đồng thời là nguồn quan trọng tạo nên phẩm giá và sự gắn kết xã hội.
Khi một cộng đồng có tỷ lệ thất nghiệp cao, hiệu ứng lan tỏa có thể bao trùm nhiều mặt. Nghiên cứu cho thấy tại một số vùng của Hoa Kỳ, việc nhà máy đóng cửa góp phần làm gia tăng số ca tử vong do dùng opioid quá liều. Giờ hãy hình dung những áp lực tương tự cùng lúc đè lên người lao động trí óc và lao động chân tay trên phạm vi toàn quốc.
Ngay từ bây giờ, chúng ta phải suy nghĩ về cách giảm thiểu mất việc để mọi người đều được chia sẻ sự thịnh vượng do AI tạo ra. Đợi đến khi người lao động đã mất việc hoặc thiếu việc làm thì sẽ quá muộn. AI là một thách thức mang tính cơ cấu đối với cách nền kinh tế được tổ chức, và nó đòi hỏi tư duy cùng hành động ngay lúc này.
AI sẽ trao thêm sức mạnh để con người — và có lẽ cả các AI — gây ra nhiều tổn hại hơn
Từ rất lâu trước khi AI trở nên phổ biến, trên mạng đã có thông tin về cách chế tạo bom, vũ khí sinh học, thậm chí virus máy tính. AI sẽ làm cho việc không chỉ tiếp cận mà còn biến những thông tin ấy thành hành động trở nên dễ dàng hơn nhiều. Ngay cả tội phạm có kỹ năng rất hạn chế cũng có thể nhắm vào nạn nhân ở mọi quy mô: cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ.
Ngay cả tội phạm có kỹ năng rất hạn chế cũng có thể nhắm vào nạn nhân ở mọi quy mô.
Gian lận, thông tin sai lệch, nội dung giả mạo tinh vi và giám sát được hỗ trợ bởi AI là những tác hại mà nhiều người sẽ cảm nhận rõ nhất trong đời sống hằng ngày.
Các năng lực AI đã bắt đầu được dùng cho tấn công mạng. Những chuyên gia an ninh mạng giỏi nhất mà tôi biết đang lo sợ về vài năm tới, bởi kẻ tấn công có được những năng lực mới rất mạnh nhanh hơn tốc độ bên phòng thủ khắc phục mọi lỗ hổng. Xét cho cùng, cùng một mô hình AI có thể tìm ra lỗi phần mềm để công ty sửa chữa cũng có thể giúp tội phạm khai thác lỗi đó. Nguồn lực cần thiết để thực hiện một cuộc tấn công đang giảm mạnh, và chúng ta vẫn chưa thể tách các năng lực ấy khỏi những cách sử dụng lành tính.
Hãy nghĩ đến những hạ tầng dễ bị tổn thương: bệnh viện, tổ chức tài chính, hệ thống nước, lưới điện và các hệ thống quản lý phúc lợi của chính phủ. Khi các cơ quan này bị tấn công, bệnh nhân, khách hàng và người nhận trợ cấp là những người có nguy cơ chịu thiệt hại.
Khủng bố sinh học cũng vậy. Dù AI sẽ dẫn đến những bước tiến cứu người trong thuốc men và vaccine, nó cũng sẽ khiến việc thiết kế một căn bệnh chết người mới trở nên dễ dàng hơn. Một lần nữa, rất khó tách năng lực tích cực khỏi năng lực nguy hiểm. Đây là vấn đề toàn cầu.
Những rủi ro vừa nêu liên quan đến việc AI trao thêm quyền lực cho những tác nhân xấu hiện có tương đối ít quyền lực. Nhưng các công cụ này cũng sẽ làm quyền lực tập trung hơn ở những nơi vốn đã nắm quyền. Chẳng hạn, vũ khí tự hành sẽ giúp chính phủ có khả năng sử dụng vũ lực chết người lớn hơn nữa mà không cần con người tham gia quyết định. Việc theo dõi và thao túng dư luận cũng sẽ dễ hơn, rẻ hơn và hiệu quả hơn.
Cuối cùng, khả năng dùng AI để gây hại sẽ không chỉ thuộc về con người hay các tổ chức. Bản thân các hệ thống AI đôi khi đã hành động theo những cách mà người thiết kế không chủ định. Công nghệ đang cải thiện nhanh hơn bất kỳ ai dự đoán và theo những hướng bất ngờ. Khi các mô hình trở nên mạnh hơn, chúng có thể bắt đầu hành động trái với lợi ích của chúng ta, và chúng ta có thể mất quyền kiểm soát. Tôi sẽ nói thêm về vấn đề này trong tương lai.
Các mô hình AI có thể bắt đầu hành động trái với lợi ích của chúng ta, và chúng ta có thể mất quyền kiểm soát.
AI có thể kìm hãm sự phát triển của trẻ em và thay thế các mối quan hệ giữa người với người
Khi lớn lên ở Seattle, ngoài một vài cậu bạn có nhiều điểm giống mình, tôi không có nhiều bạn bè. Tôi đã phải rất nỗ lực, với sự giúp đỡ to lớn của mẹ, để phát triển kỹ năng xã hội và có thể giao tiếp với nhiều kiểu người khác nhau. Đến tuổi 70, tôi vẫn vận dụng những bài học ấy.
Tôi nghi ngờ rằng mình sẽ không cố gắng như thế nếu hồi đó có một người bạn đồng hành AI. Chúng nói chuyện theo những cách mà bạn vốn đã cảm thấy thoải mái. Chúng không đẩy bạn ra khỏi vùng an toàn. Chúng luôn sẵn sàng và không bao giờ nổi giận. Điều này khiến chúng có khả năng gây nghiện rất cao và cướp đi những bài học mà chúng ta có được khi kết nối với người khác.
Lượng bằng chứng về chủ đề này vẫn còn ít và kết quả phần nào trái chiều, nhưng đã có những dấu hiệu khiến chúng ta phải rất lo ngại. Chẳng hạn, trong một nghiên cứu với hơn 1.100 người sử dụng bạn đồng hành AI, các nhà nghiên cứu tại Stanford và Carnegie Mellon phát hiện rằng những người có mạng lưới xã hội nhỏ hơn có xu hướng tìm đến chatbot để bầu bạn nhiều nhất. Việc sử dụng càng nhiều và càng mang tính riêng tư về cảm xúc, họ càng cảm thấy tồi tệ hơn.
Người trẻ có thể bị ảnh hưởng suốt đời. Trong cuốn The Anxious Generation (Thế hệ âu lo), Jonathan Haidt đưa ra một nhận xét về tác động của mạng xã hội, và điều này còn đúng hơn đối với AI: “Giống như những cây non tiếp xúc với gió, trẻ em thường xuyên đối mặt với những rủi ro nhỏ sẽ lớn lên thành người trưởng thành có khả năng ứng phó với những rủi ro lớn hơn nhiều mà không hoảng loạn. Ngược lại, trẻ được nuôi dưỡng trong nhà kính được bảo vệ đôi khi bị nỗi lo âu làm tê liệt trước khi trưởng thành.”
Một người bạn đồng hành AI được thiết kế để không bao giờ làm bạn khó chịu chính là một nhà kính được bảo vệ khổng lồ.
Chúng ta mới chỉ bắt đầu hiểu những nguy cơ mà internet, đặc biệt là mạng xã hội, có thể gây ra đối với sự phát triển của người trẻ. Chúng ta đang chứng kiến việc sử dụng mang tính cưỡng bức, giấc ngủ bị gián đoạn, bắt nạt trên mạng và tiếp xúc với nội dung có hại. AI có thể khuếch đại nhiều rủi ro bằng cách làm chúng thuyết phục hơn và khó thoát khỏi hơn; chúng ta không nên chờ thêm một thế hệ mới bắt đầu coi trọng chúng. Các nước như Australia, Vương quốc Anh và Na Uy đang áp dụng những biện pháp bảo vệ trẻ em trên mạng. Trung Quốc đi xa nhất: các quy định của nước này hạn chế rộng rãi ứng dụng bạn đồng hành AI, cấm những thiết kế nuôi dưỡng sự phụ thuộc cảm xúc, đồng thời cấm người thân ảo và bạn tình ảo đối với trẻ vị thành niên.
Cùng một công cụ giúp con người học được nhiều hơn bao giờ hết cũng có thể khiến nhiều người học được ít hơn.
Tôi cũng lo ngại về tác động của AI đối với giáo dục. Trớ trêu thay, cùng một công cụ giúp con người học được nhiều hơn bao giờ hết cũng có thể khiến nhiều người học được ít hơn. Một khảo sát sơ bộ cho thấy việc sử dụng AI nhiều hơn có liên hệ với khả năng tư duy phản biện thấp hơn, và tác động này mạnh hơn ở người trẻ.
Đây là thời điểm tồi tệ nhất để con người đánh mất kỹ năng tư duy phản biện. Trong thời đại của nội dung giả mạo tinh vi và thông tin sai lệch có thể được điều chỉnh riêng cho từng cá nhân, khả năng phân biệt đâu là thật, đâu là giả trở thành kỹ năng sống thiết yếu.
Chưa rõ nên vạch ranh giới ở đâu đối với những vấn đề tâm lý-xã hội này. Trong một số trường hợp, AI có thể giúp con người hiểu cách cải thiện các mối quan hệ thật. Nó có thể là sự tiếp xúc duy nhất với thế giới bên ngoài của người cao tuổi cô độc và người hạn chế khả năng vận động; có vẫn tốt hơn không. Dù cuối cùng ranh giới được đặt ở đâu, đó phải là quyết định có chủ đích của chính chúng ta.
Những điều tốt đẹp chúng ta làm được với AI có thể vô cùng tốt đẹp
Người ta thường nói rằng chúng ta đánh giá quá cao mức độ thay đổi trong ngắn hạn nhưng lại đánh giá quá thấp mức độ thay đổi trong dài hạn.
Với AI, tôi thấy một điều khác đang diễn ra. Một số người chỉ nhìn thấy mặt tích cực mà không chú ý đầy đủ đến mặt tiêu cực. Những người khác lại mắc sai lầm ngược lại: chỉ tập trung vào các nguy cơ — vốn có thật — đến mức bỏ lỡ những lợi ích tiềm tàng.
Chúng ta cần cả hai: mối quan ngại sâu sắc về những tác hại của AI cần giảm thiểu, và tinh thần lạc quan có cơ sở về những điều tích cực nếu chúng ta tối đa hóa chúng cho tất cả mọi người.
Tối đa hóa lợi ích cũng quan trọng như giảm thiểu tác hại. Nếu thấy AI làm cho cuộc sống dễ dàng hơn, người dân sẽ xây dựng niềm tin cần thiết để quản lý những phần khó khăn hơn của quá trình chuyển đổi. Nếu điều đầu tiên AI làm trong cuộc đời phần lớn mọi người là lấy đi việc làm của họ, những người vốn hoài nghi sẽ thẳng thừng bác bỏ nó. Điều đó sẽ khiến việc hiện thực hóa các lợi ích trở nên khó khăn hơn. Đây là một lý do nữa để chính phủ, các ngành nghề, bao gồm y tế, và các công ty AI cùng hợp tác ngay từ bây giờ.
Với khả năng tổng hợp tri thức từ mọi lĩnh vực khoa học, AI có thể tăng tốc đổi mới trong những thách thức kỹ thuật khó khăn nhất của thế giới: cung cấp năng lượng sạch đáng tin cậy cho mọi người, ứng phó biến đổi khí hậu, sản xuất đủ lương thực, xóa sổ bệnh tật và nhiều vấn đề khác. Các nhà nghiên cứu điều trị ung thư hoặc năng lượng hạt nhân có thể dùng AI để rà soát khối lượng khổng lồ tài liệu khoa học. Nó có thể giúp họ nhận diện những quy luật mà con người bỏ sót và quyết định thí nghiệm nào triển vọng nhất. Khi trí tuệ không còn là yếu tố hạn chế như hiện nay, các công ty nhỏ hơn sẽ có thể cạnh tranh với những tổ chức có ngân sách nghiên cứu lớn hơn rất nhiều. Nghiên cứu-phát triển và đổi mới sẽ được tăng tốc mạnh mẽ.
Y tế là một lĩnh vực mà AI có thể góp phần giải quyết các vấn đề thực tế. Nhiều bệnh viện nhỏ ở Mỹ không có chuyên gia tại chỗ để nhanh chóng chẩn đoán trong tình huống khẩn cấp đe dọa tính mạng. Ở những nơi ấy, AI có thể giúp phát hiện kịp thời cơn đau tim và giúp một gia đình tránh khoản chi phí khủng khiếp của một ca cấp cứu. Viz.ai là một ví dụ. Công cụ này phân tích ảnh chụp để phát hiện đột quỵ và các tình trạng cấp cứu khác, đồng thời giúp đội ngũ y tế phối hợp chăm sóc bệnh nhân. Nó đang được sử dụng tại gần 2.000 bệnh viện ở Hoa Kỳ.
AI cũng sẽ giúp bác sĩ chăm sóc ban đầu chẩn đoán tốt hơn và giữ liên lạc với bệnh nhân khi họ không có mặt tại phòng khám. Nó sẽ giúp bệnh nhân hiểu kết quả xét nghiệm và lịch dùng thuốc phức tạp.
Nông nghiệp là nơi tôi nhìn thấy tác động nhanh nhất của AI tại các nước thu nhập thấp.
Tôi khiến nhiều người ngạc nhiên khi nói rằng nông nghiệp là lĩnh vực thứ hai mà tôi nhận thấy tác động nhanh nhất của AI ở các nước thu nhập thấp. Tại phần lớn các nước này, nông dân không có dự báo thời tiết đáng tin cậy hoặc lời khuyên về giống cây nên trồng, cách bảo vệ cây trồng và vật nuôi khỏi dịch bệnh hay cách cải thiện đất. Trước sự gia tăng dân số và thách thức của biến đổi khí hậu, họ cần được hỗ trợ hơn bao giờ hết. Nhờ AI, nông dân nghèo sẽ sớm nhận được lời khuyên về tất cả những vấn đề này tốt hơn cả những gì người nông dân giàu nhất có được hiện nay, từ đó tăng đáng kể sản lượng.
Dịch vụ công là lĩnh vực thứ ba mà AI có thể làm cho cuộc sống dễ dàng hơn. Ở Hoa Kỳ, tôi đã gặp những gia đình hoàn toàn có thể hiểu được khi cảm thấy choáng ngợp trước thủ tục xin bảo hiểm y tế, hỗ trợ học tập hoặc trợ cấp lương thực. Đối diện một chồng biểu mẫu hành chính phức tạp, nhiều người chỉ muốn bỏ cuộc. AI có thể đơn giản hóa quy trình một cách đáng kể để họ nhận được trợ giúp nhanh hơn và chính phủ hoạt động hiệu quả hơn. Các chính phủ có thể cải thiện rõ rệt trải nghiệm của người dân, bắt đầu với những người cần nhất các dịch vụ thuộc mạng lưới an sinh.
Bất chấp lo ngại về tác động đến sức khỏe tâm thần, tôi cho rằng AI cũng có thể hỗ trợ rất nhiều trong lĩnh vực này. Phần lớn cộng đồng có quá ít chuyên gia tư vấn, bác sĩ tâm thần và chuyên gia điều trị nghiện. Với những biện pháp bảo vệ quyền riêng tư phù hợp, công cụ AI có thể giúp con người nhận biết dấu hiệu cảnh báo; khi cần, chúng có thể đề xuất chiến lược ứng phó dựa trên bằng chứng và phối hợp với con người để cung cấp điều trị kịp thời hơn.
AI cũng có thể là một lợi ích lớn cho giáo dục, bất chấp các lo ngại tôi đã nêu. Nó có thể giúp giáo viên dành nhiều thời gian hơn để làm việc trực tiếp với từng học sinh hoặc nhóm nhỏ, đồng thời cho họ cái nhìn rõ hơn về những điểm mà cả lớp đang gặp khó khăn. Đối với học sinh, một công cụ AI duy trì được điều mà các nhà nghiên cứu gọi là “nỗ lực nhận thức hữu ích” — công việc trí óc tạo dựng sự hiểu biết — có thể củng cố việc học. Khi học sinh lần đầu tiếp xúc với một ý tưởng mới, AI cung cấp giải thích có chiều sâu cùng cả câu hỏi lẫn câu trả lời. Về sau, khi kiểm tra mức độ hiểu bài, nó không đưa ngay đáp án mà giúp học sinh tự tìm ra.
Tổng hợp lại, những tiến bộ trong tất cả các lĩnh vực này có thể làm cho đời sống hằng ngày dễ dàng hơn, ít tốn kém hơn và ít bị giới hạn hơn bởi thu nhập hay các mối quan hệ của một người.
AI có thể giúp cá nhân và doanh nghiệp nhỏ tiếp cận những năng lực mà hiện nay phải cần đến dịch vụ chuyên môn đắt đỏ hoặc đội ngũ nhân sự lớn, đồng thời làm cho sản phẩm và dịch vụ tốt hơn, rẻ hơn. Nó có thể giúp người khuyết tật sống độc lập hơn và giúp người lao động, doanh nhân có ý tưởng hay đạt được nhiều hơn rất nhiều so với hiện nay.
Quan trọng nhất, AI có thể trả lại cho con người một phần thời gian và sự chú ý hiện đang bị tiêu tốn bởi giấy tờ, thủ tục hành chính, việc tìm kiếm thông tin đáng tin cậy và những nhiệm vụ mà họ không đủ tiền thuê người khác làm. Các lợi ích này có vẻ khiêm tốn, nhưng khi nhân lên trong hàng triệu cuộc đời, chúng sẽ vô cùng sâu sắc: nhiều người nhận được lời khuyên tốt vào đúng lúc và có thêm tự do để tập trung xây dựng cuộc sống mà mình mong muốn.
Chúng ta phải chủ động bảo đảm AI mang lại lợi ích cho mọi người, chứ không chỉ cho một nhóm nhỏ giàu có.
Trong tất cả những lĩnh vực trên, từ khóa là “có thể”: AI có thể cải thiện cuộc sống của người dân ở mọi mức thu nhập. Nhưng điều đó sẽ không tự động xảy ra. Giống bất kỳ công nghệ mới nào, chúng ta phải chủ động bảo đảm nó mang lại lợi ích cho mọi người, chứ không chỉ cho một nhóm nhỏ giàu có. Điều này đòi hỏi chính phủ và các tổ chức từ thiện đóng vai trò mạnh mẽ để người dân ít giàu có và các nước thu nhập thấp được hưởng lợi đầy đủ.
Quỹ Gates còn 19 năm trong thời hạn 20 năm để chi toàn bộ 200 tỷ đô la còn lại. AI sẽ giúp quỹ đạt được những mục tiêu đầy tham vọng bằng cách vừa đẩy nhanh việc phát hiện vaccine và thuốc điều trị HIV, lao, sốt rét và suy dinh dưỡng, vừa giúp nhân viên y tế và bệnh nhân biết cách sử dụng những công cụ ấy. Các mục tiêu của quỹ bao gồm tiếp tục giảm một nửa số trẻ em tử vong mỗi năm, giống như thành quả đã đạt được từ năm 2000 đến 2024. Mọi lĩnh vực hoạt động của chúng tôi, không chỉ y tế mà cả nông nghiệp và giáo dục, sẽ tận dụng tối đa AI.
Tháng tới, tôi sẽ viết nhiều hơn về những nỗ lực này trong báo cáo Goalkeepers thường niên của quỹ, bao gồm trọng tâm bảo đảm các mô hình AI có thể sử dụng bằng ngôn ngữ của người dân tại tất cả những quốc gia nơi chúng tôi hỗ trợ hoạt động, chứ không chỉ các ngôn ngữ phổ biến ở nước giàu và thu nhập trung bình. Nhiều công ty AI hàng đầu, gồm OpenAI, Anthropic, Google và Microsoft, đang hợp tác với quỹ trong tất cả những sáng kiến này, qua đó tạo ra khác biệt lớn.
Thế giới cần một kế hoạch
Việc một số công ty AI đề xuất giải pháp cho những thách thức do chính công nghệ của họ tạo ra là điều đáng hoan nghênh, nhưng chúng ta không nên kỳ vọng họ dẫn dắt nỗ lực này. Một số vấn đề nằm ngoài chuyên môn của họ và trong một xã hội dân chủ, họ không có vai trò quyết định những vấn đề ấy.
Thay vào đó, giải pháp phải được xây dựng thông qua một tiến trình dân chủ công khai có sự tham gia của quan chức dân cử, nhà hoạch định chính sách, nhà giáo dục, nhân viên y tế, quan chức địa phương và lãnh đạo cộng đồng. Cuộc sống của hàng triệu người sẽ bị xáo trộn, và chúng ta cần một mạng lưới an sinh xã hội mạnh hơn, linh hoạt hơn để giúp họ vượt qua giai đoạn chuyển đổi. Các cộng đồng địa phương đã lên tiếng lo ngại về lượng năng lượng và nước mà các trung tâm dữ liệu cần sử dụng. Nếu không có giải pháp, một số nhóm sẽ thúc đẩy việc ngừng hoàn toàn quá trình phát triển và triển khai AI.
Các giải pháp phải được định hình bởi câu trả lời của chúng ta cho những câu hỏi sâu sắc mà AI đặt ra, bao gồm việc làm thế nào bảo tồn tính người trong thời đại máy móc có thể suy nghĩ vượt trội chúng ta. Là những người dành cả cuộc đời suy ngẫm về ý nghĩa của việc làm người, các nhà lãnh đạo tôn giáo có thể đóng vai trò then chốt. Tôi đặc biệt quan tâm đến thông điệp của Giáo hoàng Leo XIV về AI, “Về việc bảo vệ con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo”. Văn kiện này đặt nền tảng vững chắc cho những việc cần làm.
Trong những tháng tới, tôi sẽ chia sẻ thêm các ý tưởng nhằm bảo đảm lợi ích của AI lớn hơn tác hại mà nó gây ra. Dưới đây là ba ý tưởng đầu tiên, bắt đầu với điều tôi cho là quan trọng nhất.
Xây dựng một hệ thống mới để quản lý quá trình chuyển đổi
Ưu tiên cao nhất là một nhiệm vụ khổng lồ: xây dựng khuôn khổ trong nước và quốc tế để ứng phó với AI.
Không một thể chế hiện nay nào được thiết kế để xử lý một công nghệ lan truyền nhanh đến vậy và chạm tới nhiều mặt của đời sống đến thế. Vì vậy, chúng ta sẽ cần tạo ra những thể chế mới.
Thật khó diễn tả hết quy mô của công việc này. Sau vụ tấn công ngày 11/9, chính phủ Hoa Kỳ đã tiến hành cuộc tái tổ chức lớn nhất kể từ Thế chiến II chỉ nhằm cải thiện một chức năng: an ninh quốc gia.
AI sẽ đòi hỏi nhiều hơn thế rất nhiều. Nó sẽ tác động đến an ninh quốc gia cũng như việc làm, giáo dục, thuế, năng lượng, bầu cử, không khí và nước, y tế công cộng, hệ thống tài chính, thực thi pháp luật, giao thông, đất công và hệ thống công nghệ thông tin.
Những lĩnh vực này giao thoa theo cách mà bộ máy hành chính hiện hữu không được thiết kế để quản lý. Một bộ lao động có thể hiểu sự gián đoạn lực lượng lao động nhưng không hiểu rủi ro an ninh. Một cơ quan quản lý kinh doanh có thể hiểu sự tập trung thị trường nhưng không hiểu tác động của AI đối với trẻ em và thanh thiếu niên. Nếu hoạt động riêng rẽ, mỗi cơ quan chỉ nhìn thấy một phần của hệ thống, trong khi hệ quả của AI sẽ lan khắp toàn bộ hệ thống.
Ở cấp quốc gia, các nước sẽ cần những cơ quan có khả năng đặt ra ưu tiên giữa các cơ quan chính phủ. Mục tiêu là bảo đảm mọi rủi ro đều được tính đến. Nếu không, một cuộc tấn công có AI hỗ trợ có thể thành công chỉ vì không ai cho rằng ngăn chặn nó là trách nhiệm của mình.
Nhưng ngay cả một quốc gia đã sắp xếp tốt công việc trong nước vẫn sẽ phải đối mặt với rủi ro xuyên biên giới. Vì vậy, song song với đó cần xây dựng một tổ chức quốc tế.
Tổ chức này sẽ không giống bất kỳ thể chế nào chúng ta từng tạo ra, mặc dù có thể tham khảo một số hệ thống hiện hữu. Thế giới có cơ chế thanh sát vũ khí hạt nhân, quy định hàng không quốc tế và những thỏa thuận bảo vệ tầng ozone. Một tổ chức AI toàn cầu mới sẽ cần những yếu tố của cả ba mô hình này và hơn thế nữa.
Hoàn toàn hợp lý khi tự hỏi liệu các thể chế của thế giới có đủ năng lực thiết kế và triển khai kiến trúc mới ấy hay không. Chính phủ vận hành chậm, nếu có vận hành; sự phân cực trong nội bộ và giữa các quốc gia khiến việc hành động khó khăn hơn bao giờ hết. Sẽ cần một mức độ hợp tác nào đó giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Chúng ta không có đặc quyền được tiến chậm. Điểm khởi đầu là thiết lập một tiến trình xây dựng các thể chế phù hợp trước khi sự gián đoạn đẩy chính phủ vào trạng thái khủng hoảng. Các nhà lãnh đạo quốc gia nên thường xuyên triệu tập nhà kinh tế, chuyên gia công nghệ, chuyên gia lao động, lãnh đạo doanh nghiệp và chính người lao động để xác định các thể chế hiện tại đang thất bại ở đâu và có thể cần những thẩm quyền mới nào. Các nước cần học hỏi lẫn nhau.
Những quốc gia nơi đặt trụ sở của các nhà phát triển AI hàng đầu và kiểm soát những mắt xích then chốt trong chuỗi cung ứng nên bắt đầu gặp nhau ngay từ bây giờ để thiết lập các chuẩn mực chung, trước khi áp lực cạnh tranh khiến việc hợp tác trở nên khó khăn hơn.
Xây dựng khuôn khổ tôi đề cập sẽ mất nhiều năm. Đó là lý do chúng ta phải bắt đầu ngay.
Dành riêng một số công việc cho con người
Cha tôi qua đời vì bệnh Alzheimer vào năm 2020. Trong giai đoạn cuối của bệnh, ông được những người chăm sóc chuyên nghiệp túc trực ngày đêm. Họ hiểu ông ngay cả khi ông gặp khó khăn trong việc diễn đạt. Không phải lúc nào ông cũng có thể nói rằng mình đang đói, nhưng họ luôn biết.
Gia đình tôi và tôi sẽ mãi biết ơn nhóm chuyên gia tuyệt vời ấy. Trong sự chăm sóc họ dành cho cha tôi có điều gì đó mang tính con người không thể thay thế. Không robot nào có thể hoặc nên làm việc đó.
Tôi nghĩ đến đội ngũ ấy khi câu hỏi công việc nào sẽ biến mất và công việc nào sẽ còn tồn tại được đặt ra. Tôi tin rằng khi AI và robot tiến bộ, chúng ta sẽ dành riêng một số việc chỉ cho con người thực hiện. Tôi bắt đầu gọi phạm vi này là “Dành riêng cho con người” (Human Reserved), và đây là một ví dụ về những ý tưởng chúng ta cần cân nhắc.
Tôi thích cụm từ “Dành riêng cho con người” vì nó khiến tôi liên tưởng đến các khu bảo tồn thiên nhiên — những nơi chúng ta có thể xây nhà và đường sá nhưng lựa chọn không làm vậy, bởi mất mát sẽ quá lớn.
Chúng ta có thể dành riêng một việc cho con người vì lý do kinh tế. Chẳng hạn, có thể làm vậy vì nếu để máy móc đảm nhận một vai trò nhất định, một số lượng lớn người không dễ chuyển nghề sẽ mất việc. Bạn không thể nói với một người 55 tuổi đã làm xây dựng cả đời rằng họ cần chuyển sang làm tại một cơ sở chăm sóc người cao tuổi rồi kỳ vọng họ cảm thấy mãn nguyện.
Đôi khi quyết định dành một việc cho con người sẽ xuất phát từ những yếu tố khác. Chẳng hạn trong y tế, hãy tưởng tượng một robot báo cho bạn tin khủng khiếp rằng bạn mắc bệnh nan y. Không có lý do kỹ thuật nào khiến nó không thể làm vậy. Nhưng nó không nên làm.
Phạm vi “Dành riêng cho con người” sẽ thay đổi theo thời gian. Chẳng hạn, chúng ta nên cân nhắc dành riêng một số công việc ngay từ bây giờ, đồng thời từng bước đưa AI vào trong nhiều năm hoặc nhiều thập kỷ, với cam kết bảo tồn một số việc làm. Một số lĩnh vực như giáo dục và chăm sóc sức khỏe tâm thần sẽ là sự kết hợp, trong đó con người chịu trách nhiệm và sử dụng công nghệ để mở rộng năng lực của mình.
Ranh giới cũng sẽ khác nhau giữa các nơi. Một số quốc gia có thể nhất quyết để con người chăm sóc người cao tuổi. Nhưng một nước như Nhật Bản, nơi lực lượng lao động thu hẹp và không có đủ người trẻ chăm sóc người già, có thể chào đón robot chăm sóc.
Ý tưởng “Dành riêng cho con người” đặt ra hàng loạt câu hỏi mà tôi chưa có lời giải: Ai có quyền quyết định những gì được dành riêng cho con người? Nên sử dụng tiêu chí nào? Làm sao ngăn các công ty gian lận và vẫn dùng robot? Điều gì xảy ra với thương mại quốc tế khi một nước cho phép robot sản xuất một mặt hàng còn nước khác thì không? Những vấn đề này cần được thảo luận công khai như một phần của kế hoạch chuyển đổi.
Cân bằng lại cách đánh thuế lao động và vốn
Khi người lao động bị đẩy sang những công việc khác, họ sẽ cần được đào tạo lại và nhận các hỗ trợ khác từ mạng lưới an sinh xã hội. Nhưng họ sẽ làm việc ít hơn, đồng nghĩa đóng ít thuế thu nhập hơn; nguồn thu chính phủ sẽ giảm đúng lúc nhu cầu đối với các dịch vụ ấy cao nhất. Trong bối cảnh ngân sách vốn đã eo hẹp, tiền sẽ phải đến từ một nơi nào đó.
Tôi tin rằng chúng ta nên đánh thuế token AI và robot. Hiện nay, nếu là người sử dụng lao động và tuyển một nhân viên, bạn phải đóng thuế tiền lương trên thu nhập của họ. Nhưng nếu mua một robot, thông thường bạn có thể khấu trừ ngay như một khoản chi phí kinh doanh. Hệ thống thuế đang khuyến khích bạn thay con người bằng máy móc.
Một sắc thuế sẽ phần nào làm chậm cuộc chạy đua rời bỏ lao động con người và tạo nguồn tiền cho việc đào tạo lại cùng một mạng lưới an sinh vững mạnh hơn. Thuế cần được thiết kế có mục tiêu để không làm chậm những ứng dụng AI hoàn toàn có lợi, như làm cho thuốc men và giáo dục rẻ hơn.
Những người phản đối cho rằng ý tưởng này không tối ưu về hiệu quả kinh tế, nhưng họ chưa tính đến giá trị rộng lớn hơn của việc làm đối với cá nhân và xã hội. Với toàn bộ đổi mới được tăng tốc mà chúng ta sẽ có, chúng ta có thể chấp nhận một chút kém hiệu quả như cái giá để giữ cho con người có việc làm.
Tôi đã đề xuất thuế robot từ nhiều năm trước và phần lớn phản ứng khi đó cho rằng đây là một ý tưởng kỳ lạ. Tôi vẫn là người ủng hộ mạnh mẽ. Dù không phải toàn bộ giải pháp cho mối đe dọa từ AI, nó là một phần của cách ứng phó khôn ngoan.
Dù huy động tiền cho các khoản hỗ trợ bổ sung bằng cách nào, nguồn lực ấy phải đến được với những người cần nhất, gồm người mất việc vì AI và robot, người bị giảm giờ làm hoặc tiền lương, và những cộng đồng nơi thiệt hại tập trung. Chúng ta phải bắt đầu công việc đó ngay để các hệ thống sẵn sàng khi nhu cầu trở nên cấp bách.
Những gì tôi đang làm
Tôi sẽ sử dụng tiếng nói và thời gian của mình để đưa AI và công bằng lên vị trí cao hơn trong chương trình nghị sự công. Tôi sẽ nêu vấn đề này với các nhà lập pháp mỗi lần đến Washington, D.C., và khi gặp các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới. Nó sẽ là trọng tâm trong các cuộc trao đổi của tôi với những người đang phát triển mô hình AI. Tôi sẽ vận động cho khuôn khổ quốc gia và quốc tế đã mô tả. Quỹ Gates sẽ góp phần thúc đẩy những ứng dụng có lợi, bao gồm tại châu Phi. Breakthrough Energy, một công ty do tôi thành lập, sẽ dùng AI để giúp các công ty phát triển năng lượng sạch giá rẻ và góp phần giải quyết vấn đề khí hậu. Tôi cũng sẽ thường xuyên viết về AI.
Thông điệp của tôi gửi tới các nhà lãnh đạo là:
Các vị có cơ hội hành động ngay lúc này, trước khi thất nghiệp tăng mạnh, các cộng đồng chịu tổn thương và niềm tin của công chúng bị xói mòn. Các vị có thể bảo đảm chính phủ của mình xử lý vấn đề một cách tổng thể, thay vì chia nhỏ nó cho nhiều lãnh địa quan liêu. Các vị có thể bảo đảm AI mang lại lợi ích cho tất cả mọi người. Và các vị có thể hợp tác với những chính phủ khác để ứng phó với thách thức ở cả cấp quốc gia lẫn toàn cầu.
Cuối cùng, tôi sẽ cố gắng mở rộng phạm vi những người tham gia định hình cuộc tranh luận này. Nhóm đó nên bao gồm người lao động, sinh viên đại học sắp gia nhập thị trường lao động, lãnh đạo cộng đồng, lãnh đạo tôn giáo và tổ chức dựa trên đức tin, phụ huynh, nhà giáo dục cùng những người khác mà tiếng nói thường không được lắng nghe nhưng có hiểu biết sâu sắc về cách quá trình chuyển đổi sẽ tác động đến đời sống con người.
Làm thế nào chúng ta bảo đảm lợi ích của AI đến được với những người vốn không có của cải, ảnh hưởng và khả năng tiếp cận?
Làm thế nào củng cố mạng lưới an sinh xã hội và giúp người lao động cùng cộng đồng phát triển ngay cả khi họ bị mất việc hoặc phải chuyển đổi?
Các thể chế công nên thích nghi như thế nào?
Và làm sao chúng ta gìn giữ tính người trong suốt quá trình này?
Công nghệ chưa từng có này đòi hỏi một phản ứng toàn cầu cũng chưa từng có.
Công nghệ chưa từng có này đòi hỏi một phản ứng toàn cầu cũng chưa từng có. Nếu làm đúng, thành quả dành cho nhân loại sẽ phi thường và thế giới sẽ trở nên công bằng hơn.
Tôi hiếm khi ngừng suy nghĩ về AI — không phải vì tôi có mọi câu trả lời, mà vì những câu hỏi nó đặt ra quá hệ trọng để giao phó cho một nhóm nhỏ chuyên gia công nghệ. Các nhà lãnh đạo trong giới học thuật, doanh nghiệp, chính phủ và xã hội dân sự đều có vai trò trong việc định hình những gì sẽ xảy ra tiếp theo.
