Of Spirits, Martyrs & Legends: the Magic & Sorrow of Vietnam’s Côn Sơn Island

Here’s my latest essay for CounterPunch.

The tomb of Võ Thị Sáu


A short up-and-down overwater flight from Tân Sơn Nhất International Airport and, voilà, you’ve arrived. While your destination is just off the coast of southern Vietnam, it may as well be another world. In less than an hour, you are transported from the hustle and bustle of Ho Chi Minh City (Saigon) to the quiet and melancholic beauty of Côn SơnIsland, the largest and most infamous in the 16-island Côn Đảo Archipelago.

Vietnamese come from far and wide not just to enjoy breathtaking views of the sea, fresh seafood, and invigorating walks along pristine beaches, but also to participate in a solemn pilgrimage to dark places that are a legacy of French and US brutality. They are a stark testament to the supreme arrogance of one fading colonial power that handed the blood-stained baton to an ascending neocolonial power, both convinced they had the right to determine the destiny of a country not their own. Many of those who travel here are war veterans and former prisoners who pay homage to their fallen comrades.

This tropical paradise was a penal colony during the French colonial era and the US War in Vietnam.  For 22,000 Vietnamese and some Cambodians, Côn Sơn Island was literally the last stop on a journey that began with their arrest and incarceration on the mainland. Their crime? Resisting the foreign invader du jour and fighting for their country’s independence and unification. In addition to execution, causes of death included disease and torture.

Shalom (שלום), MAA

3 thoughts on “Of Spirits, Martyrs & Legends: the Magic & Sorrow of Vietnam’s Côn Sơn Island

  1. We’ve Been Here Before: The Tiger Cages of Vietnam by Don Luce

    My best friend was tortured to death in 1970. Nguyen Ngoc Phuong was a gentle person. But he hated the war and the destruction of his country. He was arrested by the U.S.- sponsored Saigon police in one of his many anti-government demonstrations. After three days of continuous interrogation and torture, he died.”He was tortured by the (Saigon) police but Americans stood by and offered suggestions,” said one of the men who was in prison with him.

    https://historynewsnetwork.org/article/11001

  2. I listened to this while writing part of this essay. Max Richter – Sleep Reconstructed (Path theme) https://youtu.be/GvAkbHF_q80

    Thanks to Grazia Cavasino for sharing this poem on YouTube:

    “The Infinite” by G. Leopardi

    This lonely hill was always dear to me,
    and this hedgerow, which cuts off the view
    of so much of the last horizon.
    But sitting here and gazing, I can see
    beyond, in my mind’s eye, unending spaces,
    and superhuman silences, and depthless calm,
    till what I feel
    is almost fear. And when I hear
    the wind stir in these branches, I begin
    comparing that endless stillness with this noise:
    and the eternal comes to mind,
    and the dead seasons, and the present
    living one, and how it sounds.
    So my mind sinks in this immensity:
    and foundering is sweet in such a sea.

    (translated by Jonathan Galassi)

  3. ANH LINH CÁC LIỆT SỸ VÀ NHỮNG HUYỀN THOẠI – ĐIỀU KỲ DIỆU VÀ NỖI BUỒN Ở ĐẢO CÔN SƠN CỦA VIỆT NAM

    (Tác giả: Mark A. Ashwill. Nguồn: https://www.counterpunch.org/…/of-spirits-martyrs…/. Người dịch: Ngô Mạnh Hùng)

    Một chuyến bay ngắn trên mặt biển từ Sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất và bạn sẽ đến nơi. Trong khi điểm đến của bạn là ngoài khơi miền nam Việt Nam, nhưng nó cũng có thể là một thế giới hoàn toàn khác. Trong vòng chưa đầy một giờ đồng hồ, bạn sẽ được đưa đón từ thành phố Hồ Chí Minh hối hả và nhộn nhịp đến với vẻ đẹp yên tĩnh và u uất của đảo Côn Sơn, với Côn Đảo là đảo lớn nhất và khét tiếng nhất trong 16 hòn đảo của Côn Sơn.

    Người Việt Nam đến từ các phương xa không chỉ để thưởng ngoạn cảnh biển ngoạn mục, hải sản tươi sống, hay đi bộ dọc theo những bãi biển hoang sơ để tiếp thêm sinh lực, mà còn để tham gia vào một cuộc hành hương trang trọng đến với những nơi tăm tối ghi dấu sự tàn bạo của Pháp và Hoa Kỳ. Côn Đảo là minh chứng rõ ràng về sự kiêu ngạo tột độ của một quyền lực thực dân đang tàn lụi đã trao chiếc dùi cui nhuốm máu cho một quyền lực thực dân mới, cả hai đều tin rằng họ có quyền định đoạt vận mệnh của một đất nước không phải của mình. Nhiều người trong số những người hành hương đến đây là cựu chiến binh và cựu tù nhân đã bày tỏ lòng kính trọng đối với những đồng chí đồng đội đã ngã xuống của họ.

    Thiên đường nhiệt đới này từng là thuộc địa hình sự trong thời Pháp thuộc và Chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Đối với 22.000 người Việt Nam và một số người Campuchia, đảo Côn Sơn thực sự là điểm dừng chân cuối cùng trong hành trình cuộc đời của họ, bắt đầu bằng việc họ bị bắt và tống giam từ trong đất liền. Tội của họ ư? Đó là chống lại kẻ xâm lược nước ngoài và chiến đấu cho độc lập và thống nhất của đất nước của mình. Ngoài những cái chết bởi việc hành quyết, nguyên nhân tử vong của nhiều người bao gồm bệnh tật và việc tra tấn.

    Người Pháp xây dựng nhà tù Côn Đảo vào năm 1861 để giam giữ các tù nhân chính trị và giao nó lại cho bộ máy quyền lực ở miền Nam Việt Nam vào năm 1954. Đây là một trại tù chính trị với điều kiện sống cực kỳ vô nhân đạo, các phương pháp tra tấn man rợ, không lối thoát mà đối với nhiều người, không thể tưởng tượng được là chúng tồn tại. Hoa Kỳ và các cộng tác viên tay sai của họ đã mài dũa địa ngục này trên Trái đất để đạt đến sự hoàn hảo theo đúng nghĩa đen.

    CHUỒNG CỌP

    Cũng như thực dân Pháp trước đó, các nhà tù tiếp tục được ngụy quyền ở miền Nam Việt Nam sử dụng như một nơi an ninh nghiêm ngặt và biệt lập để giam giữ, tra khảo và tra tấn các tù nhân chính trị của chúng – với sự cộng tác và tài trợ hết mình của các “nhà hảo tâm” Hoa Kỳ.

    Điều khiến hầu hết thế giới biết được sự thật về Đảo Côn Sơn là kết quả của một phái đoàn tìm hiểu thực tế của Quốc hội Hoa Kỳ vào tháng 7 năm 1970, bao gồm hai đại diện Quốc hội Hoa Kỳ, Augustus Hawkins (1907-2007) và William Anderson (1921-2007), cùng với Tom Harkin (1939-), người sau này là nhân viên ở quốc hội rồi trở thành thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, dịch giả Don Luce (1934-), và Frank Walton (1909-1993), Giám đốc Văn phòng An toàn Công cộng và cố vấn về vấn đề nhà tù của tổ chức USAID.

    Don Luce, người đã sống và làm việc tại Việt Nam từ năm 1958 cho Cơ quan Tình nguyện Quốc tế, một tổ chức phi chính phủ là hình mẫu cho Quân đoàn Hòa bình Hoa Kỳ và Hội đồng các Nhà thờ Thế giới, nhớ lại chuyến thăm trong một bài báo mà ông viết có tựa đề “The Tiger Cages of Vietnam” với thông tin được trích dẫn về điều này như sau:

    “Trên đường ra đảo, Frank Walton, cố vấn nhà tù Hoa Kỳ, đã mô tả Côn Sơn chỉ giống như ‘một Trung tâm Giải trí và Hướng đạo của phương Nam’. Ông ta còn nói, đó là ‘nhà tù kiểu mẫu lớn nhất trong Thế giới Tự do’
    Tuy nhiên, chúng tôi đã thấy một cảnh rất khác khi đến khu vực nhà tù. Sử dụng bản đồ do một cựu tù nhân Chuồng Cọp vẽ, chúng tôi đã chuyển hướng khỏi chuyến tham quan theo kế hoạch lập ra từ trước để nhanh chóng đi xuống một con hẻm giữa hai tòa nhà bên ngoài của nhà tù. Chúng tôi đã tìm thấy một cánh cửa nhỏ dẫn đến những chiếc lồng nhốt người giữa các bức tường của nhà tù. Một lính canh bên trong vì nghe thấy tiếng huyên náo bên ngoài nên đã mở cửa. Và chúng tôi lập tức bước vào.
    Khuôn mặt của những tù nhân bên trong những chiếc lồng bí mật đó vẫn còn khắc sâu trong tâm trí tôi: một người đàn ông bị cụt ba ngón tay; một người đàn ông khác (sắp chết) quê ở Quảng Trị bị rạch hộp sọ; và một tu sĩ Phật giáo từ Huế, người đã lên tiếng gay gắt về việc đàn áp các Phật tử. Tôi nhớ rõ mùi hôi thối khủng khiếp do tiêu chảy và các vết loét hở nơi bị cùm sắt cứa vào mắt cá chân của tù nhân. ‘Donnez-moi de l’eau’ (cho tôi nước), họ cầu xin. Chúng tôi chạy loạn xạ giữa các phòng giam để kiểm tra sức khỏe của các tù nhân khác đang tiếp tục xin nước”.

    Một số bức ảnh của Harkin và một câu chuyện đã được đăng trên tạp chí Life vào ngày 17 tháng 7 năm 1970. Dãy chuồng cọp này do người Pháp xây dựng vào năm 1940, bao gồm 60 phòng giam không có trần, được sử dụng để tra tấn tù nhân bằng cách bắt họ “tắm nắng” trong cái nắng gay gắt của vùng nhiệt đới. Những kẻ hành hạ họ thường xuyên chọc gậy qua song sắt, đánh đập tù nhân, ném vôi vào vết thương hở của họ và đi tiểu lên người họ.

    Phần thưởng cho Luce về vai trò quan trọng của anh trong việc đưa sự thật về những hành động tàn bạo này đến với sự chú ý của dư luận thế giới là anh đã được Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn thu hồi đặc quyền thư tín, bị cảnh sát giám sát, bao gồm cả một lần cố gắng thủ tiêu anh ta (sắp đặt cho rắn độc cắn) và cuối cùng, anh bị trục xuất khỏi miền Nam Việt Nam chưa đầy một năm sau đó.

    Vào đầu năm 1971, các chuồng cọp mới đã được xây dựng bởi các công ty Morrison-Knudsen Corp, và Brown and Root Company theo hợp đồng trị giá 400.000 đô la (tương đương 2,7 triệu đô la Mỹ vào năm 2021) với MACCORDS (Bộ chỉ huy hỗ trợ quân sự hỗ trợ hoạt động dân sự), cơ quan kinh tế bán quân sự của Hoa Kỳ tại miền Nam Việt Nam.

    CUỘC HÀNH HƯƠNG HÀNG ĐÊM TẠI NGHĨA TRANG HÀNG DƯƠNG VÀ VÕ THỊ SÁU, NGƯỜI NỮ ANH HÙNG DÂN TỘC

    Mỗi đêm, ngay trước nửa đêm, hàng trăm người hành hương đã đổ về Nghĩa trang Hàng Dương để cầu nguyện và tỏ lòng thành kính tại một số ngôi mộ trong số gần 2.000 ngôi mộ ở đó, nhiều ngôi mộ không có thông tin về người nằm dưới đó, trên mỗi ngôi mộ đều có ngôi sao đỏ và chữ “liệt sĩ”. Chỉ có 700 ngôi mộ được xác định thông tin. Xuyên suốt bóng đêm là ánh sáng đỏ rực của những nén hương đốt tại các ngôi mộ trong suốt nghĩa trang rộng 20 ha (50 mẫu Anh), mùi thơm hăng hắc của chúng phảng phất trong không khí im lặng của màn đêm dày đặc.

    Ngôi mộ thu hút nhiều du khách nhất là của một nữ du kích quê ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ngày nay, tham gia kháng chiến chống Pháp khi mới 14 tuổi. Võ Thị Sáu (1933-1952) là một trong những những liệt sĩ nổi tiếng nhất đã hy sinh vì sự nghiệp giành độc lập của Việt Nam. Lê Hồng Phong (1902-1942), lãnh tụ thứ hai của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nguyễn An Ninh (1900-1943), nhà văn, nhà hoạt động và cách mạng, cũng được chôn cất tại đây.

    Những người nổi tiếng khác còn sống sót sau thời gian bị giam cầm trong nhà tù ở đảo Côn Sơn là Lê Duẩn (1907-1986), một trong những kiến ​​trúc sư của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968; Phạm Văn Đồng (1906-2000), người từng là thủ tướng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ năm 1955 đến năm 1976 và của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống nhất từ ​​năm 1976 cho đến khi nghỉ hưu năm 1987; Lê Đức Thọ (1911-1990), người dẫn đầu phái đoàn Việt Nam tại Hội nghị Hòa bình Paris (ông được trao giải Nobel Hòa bình cùng với Henry Kissinger năm 1973, nhưng đã từ chối); Tôn Đức Thắng (1888-1980), người trở thành chủ tịch nước sau khi Hồ Chí Minh qua đời năm 1969; và Trương Mỹ Hoa (1945-), một người sống sót từ Chuồng cọp của Mỹ, từng làm phó chủ tịch Việt Nam từ năm 2002-2007.

    Năm 14 tuổi, Võ Thị Sáu đã dùng lựu đạn giết chết một đại úy Pháp và làm bị thương 12 tên lính khác. Năm 1949, chị lại dùng lựu đạn nhằm tiêu diệt một trưởng làng người Việt, kẻ đã hành quyết nhiều chiến binh kháng chiến của Việt Minh. Nhưng lựu đạn không nổ và chị bị Pháp bắt. Võ Thị Sáu đã bị giam ở ba nhà tù trước khi bị chuyển đến nhà tù Côn Sơn, có lẽ là do người Pháp không đủ can đảm để thi hành án tử hình của chị trên đất liền vào thời điểm luật thực dân vẫn cho phép hành quyết phụ nữ. Chị là nữ tù nhân duy nhất bị Pháp giam giữ trên Côn Sơn.

    Cũng như những người Việt Nam hy sinh vì nền độc lập tự do khác, Võ Thị Sáu, một nữ anh hùng dân tộc được tôn vinh trong nhiều tác phẩm sân khấu và các bài hát khác nhau, đã được nâng lên địa vị linh thiêng của tổ tiên người Việt. Mỗi thành phố và thị trấn của Việt Nam đều có những con đường mang tên bà, nhiều trường học cũng vậy. Bà là hiện thân cho tinh thần của hàng triệu người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử, bao gồm cả những người lính trong các cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và thứ hai, những người đã hy sinh tất cả, tuổi trẻ, sức khỏe, tình yêu, hạnh phúc cá nhân và tính mạng của mình để Việt Nam trở thành một thể thống nhất, một Quốc gia có chủ quyền.

    Vào ngày 23 Tháng 1 năm 1952, hai năm trước khi Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ (trong chiến dịch đó những người lính Việt Minh ở Điện Biên đã thường xuyên gọi tên Võ Thị Sáu), đưa đến sự kết thúc của Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, trước khi Mỹ giành toàn quyền chỉ huy chiến tranh và chiếm đóng trong cuộc Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, Võ Thị Sáu đã bị hành quyết vào thời điểm mà khoảng 80% chi phí chiến tranh của Pháp đang được Mỹ tài trợ, điều này có nghĩa đó là người Mỹ cũng là thủ phạm gây ra vụ sát hại bà.

    Vào buổi sáng ngày hành quyết, cha tuyên úy nhà tù đến thăm Võ Thị Sáu và nói với chị: “Bây giờ tôi sẽ rửa tội cho cô và rửa sạch tội lỗi của cô”. “Tôi không có tội gì hết”, chị Sáu đã trả lời, “ông hãy rửa tội cho những người sắp giết tôi. Tôi chỉ tiếc là mình chưa diệt được bọn thực dân cướp nước Việt Nam và lũ tay sai đã bán nước cho chúng. Tôi chỉ yêu cầu một điều. Khi các người bắn tôi, đừng che mặt tôi. Tôi đủ can đảm để nhìn vào nòng súng”. Chị muốn nhìn thấy quê hương lần cuối và nhìn thẳng vào mắt kẻ thù trước khi trút hơi thở cuối cùng.

    Một ví dụ khác về sự không hề sợ hãi của chị Sáu: chị cất cao lời hát Tiến quân ca, là bài quốc ca của Việt Nam, cho đến khi có lệnh nổ súng, chị hô to “Đả đảo thực dân chiếm đóng!” và “Hồ Chí Minh muôn năm!”. Người ta nói rằng bảy người lính, mỗi người được phát hai viên đạn, nhưng chỉ có hai phát bắn trúng chị Sáu. Có suy đoán cho rằng họ đã uống rượu để có thể thực hiện nhiệm vụ dễ dàng hơn, hoặc đơn giản là họ run tay vì không dám xử tử một người phụ nữ. Thông tin phổ biến nhất là đội xử bắn đã bị kinh hoàng trước cái nhìn chằm chằm của chị Sáu. Một viên đạn găm vào hông chị và viên kia sượt qua mặt chị. Thay vì ra lệnh cho việc tổ chức bắn loạt thứ hai, viên sĩ quan phụ trách đã đi đến chỗ chị, rút ​​khẩu súng lục của anh ta, và giết chết chị ở cự ly sát gần.

    Người Pháp – với sự trợ giúp của những kẻ tay sai được gọi là “những cậu bé làm việc vặt” địa phương – đã dập tắt cuộc đời trẻ trung và đầy hứa hẹn của Võ Thị Sáu vào sáng tháng Giêng hôm đó, nhưng sự sống cao cả và lớn hơn nữa là tinh thần của bà vẫn còn mãi, bà luôn chiếm một vị trí đứng đầu trong tập thể các nữ anh hùng và những người anh hùng khác trong lịch sử dài hàng thiên niên kỷ của Việt Nam. Bà hy sinh khi mới chỉ 19 tuổi.

    Mọi người tập trung đến lăng mộ của bà để cầu nguyện cho bà và nói chuyện với bà, thắp hương và để lại đồ cúng tại mộ của bà. Một số người đưa tay ra để chạm vào bia mộ, mong tìm kiếm một sự kết nối nào đó, trong khi những người khác đứng lặng lẽ trong bóng tối, chắp tay và cúi đầu cầu nguyện.
    Tôi đã nhiều lần đến thăm và cầu nguyện tại mộ của Võ Thị Sáu và luôn cảm thấy mình nhỏ bé trong sự cảm phục trước sự hy sinh cao cả mà bà và rất nhiều những người khác đã làm thay cho đất nước mình và cho công lý toàn cầu. Đến thăm Nghĩa trang Hàng Dương, tôi cảm thấy vô cùng kính trọng và biết ơn đối với những liệt sĩ, những người đã đạt được sự hy sinh cho lý tưởng và trở thành bất tử nhờ những hành động quên mình của họ.

    Trong một bài luận năm 2015 về chuyến thăm Côn Sơn, James Rhodes đã mô tả hòn đảo này là một “nơi tuyệt đẹp với một lịch sử bi tráng. Nó cũng cho thấy rằng những người tốt sẽ chiến thắng trước những hành động xấu xa và bạo lực của kẻ khác. Đây là cảm giác chung lan tỏa ra khắp toàn bộ khu vực này, kết nối linh hồn này với linh hồn khác, bất kể họ có thể đang ở đâu. Chỉ với lý do này, nơi này cũng đã rất đáng để ghé thăm. ”

    Quan sát này ghi lại bản chất linh thiêng và nỗi buồn lẫn lộn của cảm giác khám phá hòn đảo và dạo chơi trong khu đất thiêng của Nghĩa trang Hàng Dương. Cùng với sự bi tráng, có một nhận thức sâu sắc và khôn nguôi rằng hàng nghìn người có hài cốt được chôn cất ở đây đã đứng về phía chân lý của lịch sử và đã cống hiến cuộc đời của họ trong cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Đó là một trong những món quà của Côn Sơn dành cho những ai mà mắt vẫn có thể thấy, tai vẫn có thể nghe. Linh hồn của họ nhắc nhở chúng ta về triết lý của Đức Phật: Hành động của mỗi người là hành trang chân chính duy nhất của họ. Không ai có thể thoát khỏi hậu quả của hành động của mình. Hành động của mỗi người sẽ tạo nền tảng cho họ đứng trên đó”.

    VIỆT NAM THỜI HẬU CHIẾN VÀ NHU CẦU TIẾP TỤC HY SINH

    Trở lại năm 2021, đã 69 năm sau khi Võ Thị Sáu bị giết hại và 46 năm sau khi cuộc Chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam kết thúc. Mặc dù Việt Nam đang ở trong hòa bình và tương đối thịnh vượng, nhưng Việt Nam đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề nhức nhối cũng như những lý do cao cả đáng để Việt Nam và thế giới tiếp tục đấu tranh. Các cuộc chiến hiện nay đang được tiến hành là chống lại biến đổi khí hậu, tham nhũng, phá rừng và ô nhiễm môi trường, trong số nhiều vấn đề khác.

    Dù các liệt sĩ không còn nữa, nhưng sự cần cù, tinh thần dũng cảm, đức hy sinh vì dân tộc mà Võ Thị Sáu và những người khác đã thể hiện trong anh dũng chiến đấu cần được gìn giữ, phát huy để có thể đạt được mục tiêu phát triển bền vững lâu dài. Tinh thần bất khuất của Võ Thị Sáu phải được tiếp nối, dù dưới một hình thức khác thích ứng với thời đại mới.

    ====

    Tất cả ảnh trong bài là của Mark Ashwill.

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s